Phật Ông Quan Âm & Hercules Bồ Tát

Phật Ông Quan Âm & Hercules Bồ Tát

[00:00:00] Phật Thích Ca Gia Trắng và Chúa Giê-xu Gia Nâu Ngày nay, khi biến thăm bất cứ vô chủ nào trên thế giới, chúng ta cũng sẽ bắt đạp hình ảnh Đức Phật trong tạo hình của một người đàn ông châu Á trung niên,

[00:00:23] mà thể hiện sự ăn lọc tuyệt đối qua thư thế thiền định, nụ cười hỉ xả nhẹ nhàng và đôi mắt khép hờ nhìn xuống chúng sinh. Nếu bạn là một con mỏ sách châm chính, và bạn có rất nhiều tiền, và bạn không biết nên tiêu tiền như thế nào, bạn có thể mua về máy bay sang Tokyo và dành nửa ngày để tham quan Tokyo National Museum. Ở đó, bạn sẽ được chiêm ngược bức tượng Phật cổ xưa nhất và người còn lưu giữ được. Nó có niên đại từ thế kỷ thứ hai sau công nguyên, tức là khoảng 700 năm sau khi Đức Phật ra đời.

[00:00:56] Tuy nhiên, chỉ cần nhìn thoáng qua, các bạn sẽ nhận ra có điều gì đó khăng khác, có điều gì đó sai sai. Bức tượng tối cổ này khắc họa Đức Phật với số mũi cao và thẳng như dọc dưa, đôi môi hơi mỏng, mài tóc xoăn tự nhiên, hoàn toàn khác hình ảnh tóc xoăn ốc của các tượng về sau này. Thực ra, những bức tượng này đang phát họa một người đàn ông châu Âu da trắng, mắt xanh, mũi lõ, tóc xoăn, mặc với chiếc áo chuảng toga nhiều nếp gốc truyền thống của Hy Lạp.

[00:01:24] Chứ không phải hình ảnh một người đàn ông Ấn Độ trung niên mặt mũi phúc hậu, ngồi kiếp già trên tòa sen như bấy lâu nay tay dù ký vẫn nhét vào đầu bạn. Bạn rụi mắt và đọc lại mô tả lệnh nữa. Bạn biết chữ. Bạn không nhầm. Tấm biển chỉ dẫn ghi rõ là tượng Phật, Buddha. Nếu có ai nhầm thì chắc hẳn là đã có một anh chàng nhân viên bảo tàng bất cẩn gắn nhầm tên cho tượng. Nhưng ở đây chẳng có ai nhầm cả. Cả bạn và anh chàng nhân viên bảo tàng.

[00:01:54] Đây đúng là một bức tượng Phật. Và đúng là nó được điều khác dựa trên nhân dạng người châu Âu. Cụ thể là Apollo, thần mặt trời, thần bảo trợ cho đất nước Hy Lạp. Những bức tượng Phật cổ nhất này có nguồn góp từ vùng Gandhara tại miền Bắc Pakistan và Afghanistan ngày nay. Chúng đánh số thời điểm lần đầu tiên Đức Phật được khắc họa dưới hình dáng con người. Trước đó người ta thở Phật có các biểu tượng như cây bổ đề, pháp luân, dấu chân.

[00:02:23] Tạo hình này là kết quả của sự giao thoa văn hóa Hy Lạp và Phật giáo, mang đậm phong cách điều khác Hy Lạp cổ đại. Vì vùng Gandhara này vốn là một dân quốc hình thành bởi binh lính Hy Lạp lưu lại sau cuộc biển trinh của Alexander Đại Đế. Đó là một ốc đảo châu Âu giữa lòng châu Á. Và vì vậy, khi Phật giáo được truyền bà tới đây, dân Gandhara đã bận dụng sở trung điều khác của mình để khắc họa hình ảnh của Đức Phật.

[00:02:47] Nét tân cổ giáo duyên, Đông Tây hội ngộ này thể hiện rõ nhất ở việc các nhà điều khác Vandara đã mượn nguyên vẹn tạo hình Hequen. Một người đàn ông châu Âu lực lưỡng, cường tráng để dâu quay nón dài rậm và hoàn toàn chân chuồng, không một quần áo gì để đóng vai Bồ Tát Kim Cương Thủ đứng bên cạnh hộ vệ cho Đức Phật. Điểm thay đổi duy nhất là Hequen gốc của Hy Lạp thường được khắc họa là tráng dụ sĩ, tay không chấp mọi loại quái vật.

[00:03:11] Trong khi Hequen nhập tịch thì được cho cầm chiếc chày Kim Cương Thủ đặc trưng của Phật giáo. Bên cạnh Hequen, các nhà điều khác Gandara còn trang trí thêm hình ảnh thần Cupid bay làm vòng trên đầu Phật. Nhưng thay vì cầm cung tên, hai chủ bé Cupid với đôi cánh nhỏ xíu đáng yêu sẽ cùng nhau cầm một vòng hoa lớn để đeo lành của Đức Phật. Sau Gandara, nỗi khi Đạo Phật được chuyển tới một vùng đất mới, hành tượng Phật sẽ được điều chỉnh sao cho giống với cư dân của vùng đất đó.

[00:03:39] Tượng Phật của mật tông Tây Tạng có tạo hình giống với người Tạng. Tượng của Phật giáo Đại Thừa Trung Quốc thì có tạo hình giống với người Trung Quốc. Nhưng không chỉ thay đổi nét mặt và màu da, đôi khi giới tính của Phật cũng được thay đổi sao cho hợp với văn hóa của người Thảo Phụng. Một ví dụ điển hình là quan âm hay quan thế âm Bồ Tát. Trong Phật giáo Ấn Độ Nguyên Thủy, Ngài là Avalokiteshvara, là vị Bồ Tát có thể nhìn thấu được tiếng khóc ở khắp thế gian.

[00:04:06] Quan là nghềng, thế là thế gian, âm là âm thanh. Ngài là hiện thân của lòng đại từ bi. Trong các văn bản đại thừa cổ nhất như Kinh Pháp Hoa và Kinh Hoa Nghiêm, quan thế âm Bồ Tát luôn được miêu tả là một vị Bồ Tát Nam, tuy nghiêm, cường trán, đức lưỡng. Phân biệt một chút, trong Phật giáo, danh sừng Phật được dùng để chỉ những bậc chân tu đã đạt tới cảnh giới giác ngộ cao nhất, đã tích lũy được công đức và trí tuệ để thỏa mãn tất cả mười ba la mật.

[00:04:35] Còn Bồ Tát cũng là những vị chân tu đã tới cảnh giới giác ngộ rất cao nhưng chưa đạt tới cảnh giới cao nhất. Hiểu nông na, Bồ Tát là những người rất giỏi, ngư lưỡng có bằng thạc sĩ và vẫn đang học lên tiếp tiên sĩ, chưa tuân nghiệp. Chưa tuân nghiệp có thể là do học chưa xong, Phật yêu cầu học thêm nữa. Nhưng cũng có trường hợp các ngài đã xong hết rồi, đủ mọi điều kiện rồi nhưng vẫn chưa muốn nhập Niết Bàn để ở lại trần gian siêu độ chúng sinh.

[00:05:02] Tự trung thì mấy vị Bồ Tát nổi tiếng như Quan Ân, Tân Thủ hay Phổ Hiền đều tu học rất kỹ, tu mới ngồi năm rồi mà vẫn chưa lên Phật. Trong khi phá vách như quý anh tôn ngộ không đi thỉnh kinh mười năm về mà đã được phong lên đó trên thắng Phật, tức là cất bậc còn cao hơn cả Quán Âm Bồ Tát.

[00:05:23] Đường huyền trang, hãy tiến lên đây để thụ phong, thỉnh được chân kinh đã thành chánh quả, phong cho người làm chiên đàn công đức Phật.

[00:06:30] Tôn ngộ không, trên đường đi con phục ma trừ quái, trọn dạng trước sau, có công lớn, phong cho con làm đấu chiến thắng Phật. Tạ ơn Phật Tổ, tạ ơn Phật Tổ. Sư Phụ, Lão tôi cũng thành Phật rồi.

[00:07:06] Bồ Tát, năm xưa Bồ Tát đã dạy thầy tôi đọc thần chú để trừng phạt tôi. Bây giờ tôi cũng đã thành Phật, Bồ Tát đã đọc thần chú để mở bỏ cái dòng kim cô trên đầu tôi đi. Người hãy thử sờ lên đầu mà xem. Mất rồi. Chỉ vì ngày xưa người khó bảo nên mới phải dùng dòng đó để kèm chế.

[00:07:33] Bây giờ người đã thành Phật rồi thì đương nhiên là cái dòng đó không còn nữa. Được, được. Tạ ơn Bồ Tát ạ. Nguyên gốc hình tượng Avalokiteshvara trong nghệ thuật Ấn Độ. Ví dụ như các hang động Ajanta hay Elora được khắc họa với thân hình nam tính vạm vỡ, trang phục quý tộc và đôi khi có riêng mỏng.

[00:08:00] Vị này cùng với đại thế chí Bồ Tát, đại diện cho trí tuệ, thường đặt hai bên tả hữu tạo thành hai phụ tài quan trọng nhất của Phật Azida. Đến khi Phật giáo du nhập và bén dễ tại Trung Quốc khoảng thế kỷ thứ 1 và 2 sau Cung Nguyên, người Trung Quốc dịch Avalokiteshvara ra là quan âm. Chính hiện đây, quan âm bắt đầu được chuyển giới và bắt đầu từ thời đường khoảng thế kỷ thứ 7 đến thứ 10 và hoàn tất vào thời nhà Tống thế kỷ thứ 10 đến 13.

[00:08:25] Thời kỳ đầu khi Phật giáo mới du nhập sang Trung Quốc, từ thế kỷ thứ 4 đến thứ 6, tượng quan âm vẫn mang đặc điểm nam tính, ví dụ như các bức tượng ở Long Nguôn Thuệch Quật. Sang đến thời đường, tượng quan âm dần trở nên phi giới tính, khuôn mặt bắt đầu mềm mại, dịu dàng hơn, không còn dâu ria và cơ thể mất dần đi nét cường tráng của nam giới. Trang phục trở nên thước tha và hiểu điệu hơn. Đến thời Tống thì hình tượng quan âm hoàn toàn biến thành nữ, không còn tượng quan âm dưới dạng nam hoặc phi giới tính nữa.

[00:08:52] Quan âm được nữ tinh hóa là bởi tâm lý và văn hóa của người dân Trung Quốc. Xã hội Trung Quốc truyền thống tôn vinh vai trò mẫu tính, coi người mẹ là biểu tượng tối cao của lòng tử ái, sự che chở, sự hy sinh vô điều kiện. Họ muốn có một vị cứu tinh, thể hiện lòng tử bi không giới hạn, một hình tượng gần gũi, dịu dàng, sẵn sàng tha thứ và lắng nghe những lời thỉnh cầu nhỏ bé nhất. Đặc biệt là những lời thỉnh cầu theo kiểu sớm sinh quý tử.

[00:09:17] Hình tượng nam tính uy nghiêm của Ấn Độ dường như quá xa cách, không phù hợp với những nhu cầu hết sức tế nhị và nhện cảm này. Chúng ta có thể tưởng tượng, tại một thời điểm nào đó, tại một ngôi chùa nào đó ở Trung Quốc cổ đại, một nhà sư có tư duy marketing nhẹ bén mà ngày nay chúng ta hay gọi là Customer Centric Mindset đã thực hiện một bước phân tích nhu cầu khách hàng và tinh tế nhận ra có một tiệp khách hàng lớn của chùa và các chị, các cô hiếm muộn.

[00:09:41] Và tất nhiên, không có chị hay cô nào muốn thủ thỉ nỗi niềm tế nhị của mình với một ông dâu ria sồm soàng cả. Không cần biết nội dung, nhìn hình thức là biết ông dâu ria sồm soàng, chắc chắn không hiểu gì về chuyện sinh nở rồi. Vậy là, quan âm đã được chuyển sang giới tính nữ, rút làm cho hình tượng Bồ Tát trở nên mềm mại hơn, dễ thông cảm hơn với quần chúng, đặc biệt là với chị em, và chị em vốn chiếm đa số trong tín đồ Phật giáo. Thực ra, trong kinh điển Phật giáo Nguyên Thủy, cụ thể là bộ kinh Pháp Hoa,

[00:10:10] phẩm Phổ Môn có cung cấp cơ sở thần học cho sự chuyển đổi này. Phẩm này cho biết, quan thể âm có thể hiện thân dưới 33 hình tướng khác nhau, trong đó gồm nam, nữ, tu sĩ, quốc vương, thậm chí là thần linh và quỷ dữ, để tùy duyên cứu độ chúng sinh. Khả năng tùy duyên ứng hiện này đã mở ra không gian cho sự chấp nhận hình tướng nữ, đặc biệt là khi Phật giáo di chuyển sang các nền văn hóa khác. Tuy nhiên, kinh sách hàn lâm là chưa đủ, người ta vẫn cần theo dịch thêm những câu chuyện khác

[00:10:37] để tuyên truyền về lòng chắc ẩn, về chú đại từ đại bi của quan âm. Người Trung Quốc đang nghĩ ra truyền thuyết công chúa Diệu Thiện, sinh vào khoảng cuối thời nhà Chu hoặc cuối thời nhà Hán. Lớn lên, dù bị vua cha ngăn cản, nhưng công chúa vẫn quyết đi tu. Cuối cùng, vua nổi giận, sai đem giết nàng. Nàng xuống địa ngục, nhưng ở đó nàng lại biến đổi địa ngục thành trốn tịnh độ, cứu giúp cho người hoạn nạn. Diệp vương thế vậy, bèn thả nàng ra. Sau đó nàng tái sinh trên núi Phủ Đà ở Biển Đông và trở thành vị thánh cứu độ cho ngư dân.

[00:11:06] Đến khi cha bị bệnh nặng, nàng không để bụng chuyện xưa, cắt thịt của bản thân đắp lên chỗ bệnh. Tạc tượng nàng dưới hiện thân là Phật bà nghìn mắt, nghìn tay, cứu độ chúng sinh. Tại Việt Nam, sự nữ tinh hóa của quan âm không chỉ đến từ Trung Quốc mà còn được củng cố và việt hóa sâu sắc thông qua chuyện nôn quan âm thị kính. Đây là một tác phẩm khá mới, được sáng tác vào khoảng đầu thế kỷ 19, tức là mới khoảng 200 năm nay. Trong sự tích nổi tiếng này, quan âm đã tu hành 9 kiếp,

[00:11:35] đến kiếp thứ 10, ngày đầu thai là con gái trong gia đình họ mãng ở nước Cao Ly, tạc tên là Mãng Thị Kính. Và Đức Phật chỉ định ngài sẽ phải trải qua những kiếp nạn khủng khiếp nhất mới có thể tu thành chính quả. Vậy là nàng Mãng Thị Kính nết na, hiền thục, nhưng suốt đời phải gặp những nỗi oan trái khổng lồ. Đầu tiên, chỉ vì vô tình đắt sợi dâu mọc ngược trên cằm khi chồng đang ngủ, Thị Kính bị mẹ chồng vũ oan là có ý giết chồng và bị đuổi khỏi nhà. Quá đau khổ, Thị Kính quyết tâm giải trai vào chùa làm tiểu,

[00:12:05] đấy pháp danh là Kính Tâm. Tại chùa, Thị Kính tiếp tục gặp một nỗi oan trái còn lớn hơn nữa. Nàng bị cô gái thị màu lỏng lơ, khán cho tội lầm cha đứa con ngoài giả thú của cô này. Nhưng Thị Kính chọn chấp nhận mọi tủ nhục, đánh chịu mọi tiếng xấu và nhận nuôi đứa trẻ chứ không lật tẩy thị màu.

[00:13:39] Không chỉ các vị Phật mới thấy hình đổi dạng, Chúa của Thiên Chúa Giáo cũng vậy. Chúng ta hãy cùng xem xét trường hợp Kito Giáo. Theo thời gian, hình tượng Chúa Giê-xu đã có những biến chuyển lớn, thậm chí là cũng xoay 180 độ theo nhu cầu của giới cầm quyền. Theo Kinh Thắng, Chúa Giê-xu được sinh ra bởi chính nữ Maria sau khi bài được Thiên Sứ Báo Tin sẽ thụ thai bởi quyền năng của Đức Chúa Trời. Cha nuôi của Ngài là Joseph, thợ mộc tục dòng dọi David, vị vua vĩ đại của sứ Israel. Dù gia đình Ngài cư ngụ ở thành Nazareth,

[00:14:09] Giê-xu được sinh ra tại Bethlehem. Cả hai địa điểm đều thuộc vùng đất này là Israel và Palestine. Do Joseph và Maria phải về đó để ghi danh theo lệnh kiểm tra dân số của Hồng đế Lama Augustus. Như vậy, Giê-xu mang khuyết thống hoảng gia Do Thái nhưng lại lớn lên trong một gia đình lao động bình thường. Điều đó nghĩa là Ngài sẽ mang những đặc điểm nhân chủng học của người Do Thái đương thời. Da nâu như mặt ong, tóc và mắt đen như gỗ mun. Mặt khác, tên cốc của Ngài trong tiếng Do Thái sẽ là Joshua hoặc Yahshua.

[00:14:38] Giê-xu hay Jesus chỉ là tên được dịch sang các ngôn ngữ khác. Ngày nay, hình ảnh một Đức Chúa da nâu, tóc đen, tên gọi Yahshua, có lẽ khá là khó chấp nhận với bất cứ tín đồ Thiên Chúa Giáo nào. Và trong thực tế là mấy trăm năn đầu của Kỳ Tô Giáo, người ta không được phép khắc họa Giê-xu dưới hình dạng của con người bởi trong các lời gian của Chúa, người đã nói rất rõ ràng. Ngươi không được tạc tượng vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như ở dưới đất thấp hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất để mà thở.

[00:15:08] Ngươi không được phụ phục trước những thứ đó mà phụ thở. Vì ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi là một vị thần ghen tuông. Thực ra đây là quyết tắc chung được cả do Thái Giáo, Kỳ Tô Giáo và sau này là Hồi Giáo. Ba tuân giáo có chung nguồn gốc cùng chia sẻ. Trong đó, Hồi Giáo là tuân giáo tuân thủ truyền thống này triệt đề nhất. Việc khóc họa chân dung của Thánh Allah hay nhà tiên tri Muhammad với dụng ý tốt hay xấu, tuân vinh hay chế diễu đều sẽ bị người Hồi Giáo coi là một sự bảng bộ khủng khiếp và phải trả giá bằng tính mạng.

[00:15:39] Một ví dụ điển hình là vụ khủng bố diễn ra vào tháng 1 năm 2015. Hai tên khủng bố Saeed và Sherif đã xông vào tòa sản tạp chí biếm họa Charlie Hebdo xả súng và giết chết 12 người vì tờ báo này đã cả gan đăng tải các bức biếm họa về nhà tiên tri Muhammad. Sở dĩ người Hồi Giáo chặt chẽ như vậy là bởi Kinh Quran đã quy định rất rõ ràng rằng Ngài là Allah, đứng duy nhất. Allah là đứng Samad, độc lập, tự tại. Ngài không sinh ra ai cũng không do ai sinh ra và không có một ai ngang hàng với Ngài.

[00:16:09] Các người hãy thờ phục Allah và đừng chấp nhận bất cứ cái gì là đối tác hay đối tượng thờ cúng cùng với Ngài. Với người Hồi Giáo, đứng Allah là Thượng Đế, là đứng vô hình, siêu việt, vượt khỏi mọi sự hiểu biết và hình dung của con người. Nên việc cố gắng tạo ra bất cứ hình ảnh nào hay hình tượng nào của Ngài là không thể và cần bị cấm tuyệt đối. Nhà tiên tri Muhammad tuy là người được Khánh Allah ra nhiệm vụ xuống giáo hóa người trần, nhưng bản thân Ngài cũng chỉ là một người trần mắt thịt.

[00:16:38] Vì vậy, chính Muhammad cũng không cho phép do dân Hồi Giáo thờ cúng hình tượng của bản thân ông. Tuân thủ triệt đề lời dân của Muhammad, thậm chí một số giáo sĩ mộ đạo ngày nay còn hăng hái đề xuất săn phẳng luôn lăng mộ của nhà tiên tri. Và thực tế là lăng mộ của rất nhiều người thân và triển hữu của nhà tiên tri, bao gồm mộ của cha đẻ của ông, ngôi nhà của gia đình ông. Khi ông còn sống ở thành Mecca, cũng đã bị giới chức sau đi xóa sổ. Nghe thì có vẻ bất hợp lý, nhưng nó lại hoàn toàn phù hợp với giáo lý Hồi giáo

[00:17:06] vì nếu đã cấm thờ bất cứ thứ gì thì đến lăng mộ của nhà tiên tri hay bất cứ ai cũng không thể ngoại lệ. Quay lại với kỹ tô giáo, vì ban đầu không được phép cắt họa Giê-xu về hình ảnh của con người, nên chúng ta không có tranh hay tượng nguyên gốc nào mô tả trực tiếp hình ảnh khi Ngài còn sống. Và đến khoảng 400 năm sau, người ta mới bắt đầu lờ đi cái lời dân của Chúa và những bước chân dung Giê-xu đầu tiên mới bắt đầu xuất hiện. Nhưng lúc này, kỹ tô đã không còn là một dạng giáo phái nhỏ ở vùng Jerusalem nữa

[00:17:36] mà đã vươn tầm trở thành quốc giáo của đế quốc La Mã hùng mạnh. Và vì vậy, người La Mã đã khắc họa Ngài theo nhân dạng của người Tây Âu, da trắng, mắt xanh, tóc xoăn. Thành ra, tượng Giê-xu thời kỳ đầu lại trông hao hao giống Đức Phật và Gandara vì cả hai này được phát triển từ mối típ thần Apollo của thần thoại Hy Lạc và La Mã Cổ Đại. Nếu nhân dạng và màu da của Giê-xu vẫn dừng ở mức giả thuyết vì đến nay vẫn chưa tìm được bằng chứng khảo cổ khả tí nào, thì sắc tập của Giê-xu như đã đề cập

[00:18:05] được ghi rất rõ trong Kinh Thánh và được tuyệt đại đa số kỹ tô đạo hữu đồng tình. Ngài là người thuộc dòng dõi vua David của Do Thái, sinh ra trong một gia đình Do Thái, lớn lên và truyền đạo cho cộng đồng Do Thái. Ngài chính là một người Do Thái. Hiểu theo một cách nào đó, kỹ tô giáo chính là một nhánh của Do Thái giáo tách ra để sau hình thành một tôn giáo riêng. Kỹ tô giáo vẫn công nhận và tái sử dụng kinh cựu ước của Do Thái và coi đó là nền tảng và bối cảnh cho Kinh Thánh của Kỹ tô.

[00:18:34] Tuy mọi sự rõ rành rành như vậy, nhưng có một số người không muốn tin vào điều đó. Họ muốn viết lại cái truyền thống 2.000 năm này. Họ, không ai khác, chính là Hitler và Đồng Bọ. Hitler sinh ra là một người công giáo, tuy nhiên, ông ta không phải là một con chiên ngoan đạo lắm. Tuy vậy, nước Đức lại là một quốc gia mộ đạo. Hơn 90% dân số Đức theo Thiên Chúa Giáo. Giới chức sắc, Thiên Chúa Giáo của Đức có ảnh hưởng chính trị rất mạnh.

[00:19:04] Biểu tượng của nhiều thành phố lớn ở Đức chính là các nhà thờ siêu hoành tráng như nhà thờ Cologne hay nhà thờ Berlin. Vì vậy, tuy không tin vào Thiên Chúa Giáo và luôn cho rằng giáo lý của Đạo Thiên Chúa quá đớn hèn chỉ có thể dành cho những kẻ quỷ mị, yếu đuối và lũ nô lệ. Hitler không bao giờ thể hiện ý đó ra công chúng. Hắn vẫn luôn tỏ ra là một người con của Thiên Chúa để tranh thủ sự hỗn hợp của giáo hội và giáo dân. Nhưng mà ngạch một nỗi, học tuyết phát xích của Hitler được xây dựng quanh hai luận điểm chính. Một, là dân tộc Đức

[00:19:34] hay còn lại là dân Arian là dân tộc tượng đẳng nhất, tinh hoa nhất có nhiệm vụ thống trị tất cả các sắc dân còn lại trên thế giới. Hai là, Do Thái là dân tộc hạ đẳng xấu xa nhất là kẻ thù chung của nhân dân Đức là nguồn gốc của mọi đau khổ bất hạnh trên đời. Giờ, chắc các bạn đã thấy có một điều bất tiện nho nhỏ ở đây. Nếu dân Do Thái là hạ đẳng và xấu xa nhất cần phải giữ toàn bộ. Vậy Giê-xu thì sao? Không phải Ngài cũng là người Do Thái à? Như đã đình cập ở trên,

[00:20:04] Hitler không quan trọng Thiên Chúa Giáo nhưng nó lại là thứ tôn giáo đã ăn sâu vào nếp sống nếp nghĩ của đa số người dân Đức cả ngàn năm nay. Không dễ gì mà thay đổi một sớm một chiều. Vậy thì phải làm sao? Và như mọi nhà cầm quyền mận can khác, con giáo giả chính trị Hitler và bộ sậu biết rằng chúng sẽ phải những việc tương tự như là vua Jock ở Anh hay bà Nam Phương ở Việt Nam. Chúng sẽ phải phát minh ra những truyền thống mới. Đầu tiên, chúng đã tìm cách phủ nhận toàn bộ nguồn gốc Do Thái của Giê-xu. Các học giả quốc xã tìm mọi cách để chứng minh Giê-xu chính là một người

[00:20:33] thuộc do tộc Arian ở Bắc Âu di cư đến sống giữa cộng đồng Do Thái. Kinh cựu ước và tất cả những thông tin về dòng dõi Do Thái của Ngài đều do bọn Do Thái xấu xa bịa ra thêm thắt vào để đánh lừa cộng đồng Thiên Chúa. Nhưng như vậy là chưa đủ. Một kế hoạch toàn diện hơn, triệt đề hơn và độc địa hơn nhiều đã được vạch ra. Nó sẽ được thực hiện từng đức chiến thắng. Hitler gọi nó là Positive Christianity Thiên Chúa Giáo tích cực để đối ngược với Thiên Chúa Giáo đang tồn tại. Hắn gọi đó là thứ Thiên Chúa Giáo tiêu cực.

[00:21:03] Về cơ bản, Bài Lũ Quốc xã dự định sẽ xóa sổ những truyền thống cũ và phát minh ra một loạt các truyền thống mới. Bao gồm 1 là phế bỏ hình tượng Giê-xu thay thế bằng Hitler coi Hitler là đấng cứu thế đấng kiên tri mới. 2 là phế bỏ kinh thánh và sử dụng Meikam hồi ký của Hitler làm kinh thánh mới. 3 là thay thế biểu tượng kinh thánh giá bằng biểu tượng chữ vạn của quốc xã. 4 là xóa bỏ tất cả các nhãnh hiện hữu của Thiên Chúa Giáo xóa bỏ quyền lực của Văn Ti Căng

[00:21:33] của nhà thờ Thinh Chính Thống Giáo của các nhà thờ Tin Lành và thành lập một hệ thống nhà thờ mới thống nhất từ trên xuống dưới và tất nhiên là theo sự điều hành tập trung của nhà nước quốc xã. Thoạn nghe thì dự án này táo bạo đến mức đáng kích ngạc nhưng thực ra nó không phải là không có căn cứ và sự thật là nó đã từng được thực hiện trong lịch sử và cũng không chỉ một lần. Như đã đề cập ở phần trước chúng ta có Do Thái Giáo Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo là ba tôn giáo rất gần gũi và thực tế là

[00:22:02] chúng có chung nguồn gốc thậm chí có thể coi là ba nhánh của cùng một tôn giáo vì cả ba cùng thờ chung một đấng Thiên Chúa. Cả ba tôn giáo này đều cùng sử dụng các mô tiếp rất giống nhau dù có những điểm điều chỉnh nhất định nhưng về cơ bản đều là Thứ nhất vạn vật trong thế giới này gồm loài người và mọi sinh vật khác đều do đấng Thiên Chúa toàn năng sáng tạo nên. Số hai Thiên Chúa là duy nhất ngày đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối thín đồ không được phép thờ cúng bất cứ gì khác kể cả cha mẹ tổ tiên mình. Thứ ba

[00:22:32] loài người có vô vàn tội lỗi và vì vậy đến một thời điểm nào đó Thiên Chúa sẽ ráng xuống đầu loài người những tai họa khủng hiếp nhất để dăn đe đó sẽ là ngày tận thế hay ngày phán xét. Trong ngày đó chỉ những con chiên ngoan đạo mới được Chúa cứu rỗi còn lại những người không tân theo lời dạy của Chúa sẽ bị đầy xuống địa ngục chỉ vô số cực hình gì đó và vĩnh viễn không được đầu thai. Và bốn là Chúa đã cử một vị Thiên Sứ Hạ Phạm để truyền đạt ý Chúa để dẫn dắt dạy bảo những con chiên ngoan đạo với cách sống sao cho vừa ý Chúa

[00:23:02] để được cứu rỗi chứ không phải xuống địa ngục. Tùy tôn giáo đứng Thiên Sứ hay đứng cứu thế đó có thể là con của Chúa đầu thai hoặc là một người trần nhưng tương thông được với Chúa. Những lời dân của Chúa chuyển dặt thông qua đứng Thiên Sứ thế giới ghi chép thành một bộ thánh kinh truyền từ đời này sang thời khác tính đầu cứ thế mà làm theo và thi hành. Vậy thì kế hoạch đen tối của giới quốc xã có điểm gì chung với bộ ba tôn giáo anh em này? Hiểu nôm na là các tôn giáo này cùng thờ chung một Chúa nhưng họ sẽ phủ định tôn giáo trước

[00:23:31] coi tôn giáo của mình là phiên bản mới cập nhật hơn ưu việt hơn và đánh đầy đủ và chính xác hơn ý Chúa kiểu như Do Thái giáo sẽ là huynh 8 Thiên Chúa giáo sẽ là huynh 10 còn Hồi giáo là huynh 11 và Đức Quốc xã thì lăm đè là huynh 12 vậy. Thực vậy kinh cựu ước của Do Thái nói rằng đứng cứu thế chưa tới đứng cứu thế sẽ người người thuộc dòng dõi David và sẽ chỉ xuất hiện khi ngày phản xét tận kề dựa trên đó Thiên Chúa giáo nói rằng đúng vậy Do Thái giáo nói đúng rồi đứng cứu thế

[00:24:01] đã đến đây rồi và chính là Giê-xu thành Nazareth người tuy sinh ra trong gia đình ông thợ mộc nhưng lại là có dòng máu vua David đúng như kinh cựu ước đã tiên đoán vì vậy Thiên Chúa giáo vẫn công nhận kinh cựu ước của Do Thái sau đó gần 1000 năm Muhammad của thành Mecca một ngày bỗng được Chúa tương thông và giao cho sứ mệnh chăn rắc loài người Hồi giáo vẫn công nhận Giê-xu là một thiên sứ nhưng khẳng định Muhammad mới là đứng thiên sứ cuối cùng những người dân của Chúa thông qua Muhammad được viết lại thành cuốn

[00:24:31] kinh Quran phản ánh đúng và đầy đủ nhất ý nguyện của Chúa Vậy Thiên Chúa là giống nhau nhưng trong Hồi giáo Muhammad sẽ đóng vai trò tương tự như Giê-xu còn Quran sẽ đóng vai trò tương tự như kinh thánh Kito Theo một cách nào đó những con cáo giả quốc xã đã dự định sẽ copy-paste những bước đi của Muhammad hơn 1000 năm trước lần này thay Giê-xu bằng Hitler và thay kinh thánh bằng Meikam Hitler sẽ là vị thiên sứ thứ 3 và cũng vẫn là cuối cùng thay thế cho tất cả các đời thiên sứ trước

[00:25:00] Rất may là những dự định này đã không trở thành sự thực Nhưng chắc chắn trong tương lai sẽ vẫn còn xuất hiện thêm những người nữa muốn phát minh lại truyền thống dù với ý đồ tốt hay xấu Chúng ta đã vừa xem xét một số trường hợp truyền thống mới

[00:25:29] được phát minh ra để thay thế truyền thống cũ Hitler thay thế Giê-xu nhưng nhiều khi người ta còn chẳng cần phải thay tên đổi họ và lần này chúng ta không cần phải đi tìm kiếm ở đâu xa Phần 3 Cút tịch của dòng tiên Chà hỏi đùa một chút Bạn có biết làm sao để chọc tức tuyệt đại đa số người Việt chỉ bằng một câu nói? Không biết có lẽ là ăn thịt chó là thiếu văn hóa à? Cũng không hẳn Cũng có rất nhiều người Việt

[00:25:59] yêu động vật và phản đối ăn thịt chó Vậy là gì? Tổ tiên người Việt bọn mày là người Trung Quốc à? Wow wow wow Cảm ơn trí mạng thật nha Và điều trí mạng hơn là dù có bất bình đến mấy thì cũng không dễ để phản bác lập luận này ngay một cách hợp lý và logic Thật bậy Ngày nay tuyệt đại đa số người Việt

[00:26:28] đều thống nhất rằng các vô hùng là quốc tổ là thủy tổ chung của người Việt Người Việt là con lạc cháu hồng con rồng cháu tiên rồng ở đây là lạc long quân tiên ở đây là âu cơ Nhưng hãy đi sâu thêm chút nữa Lạc long quân Ngài là ai? Lạc long quân theo lịch nam trích quái tài liệu cổ nhất có nhắc tới lạc long quân Là con trai của Kinh Dương Vương và thần long nữ mang trong mình dọc máu rồng cao quý Ngài đã dạy dân cách trồng trọt

[00:26:58] chăn muôi cách ăn ở đối nhân sự thế Lạc long quân còn diệt trừ ngư tinh khổ tinh mộc tinh mang lại cuộc sống bình yên trong môn dân Vậy cha của Lạc long quân Đức Kinh Dương Vương là ai? Theo lịch nam trích quái ông là con trai của đế minh cháu ba đời của thần nông Vậy thần nông là ai? Theo truyền thuyết thần nông hay còn gọi là viêm đế là thủy tổ của người Trung Hoa Ông là người có đầu giống đầu bò

[00:27:27] sừng nhọn chán đồng đôi bọ cạp chân rết Ông được coi là người đã dạy con người cách làm nông nghiệp trồng trọt các loại ngũ cốc và khám phá ra nhiều loại cây thuốc chữa bệnh Ông đã ním thử hàng trăm loại cây cỏ thậm chí cả những loại cây độc để tìm ra cây lương thực và cây thuốc chữa bệnh Chính nhiều công lao to lớn này mà cuộc sống của con người đã có những bước tiến vượt bậc từ việc săn bắt hái lượng chuyển sang sản xuất nông nghiệp hồn định Ngoài ra thần nông còn được cho là đã phát minh ra cây bừa

[00:27:57] rìu các công cụ nông nghiệp khác đặt nguyên móng trong sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp Trung Hoa Theo định nghĩa hiện đại tất cả các nhân vật thần nông tức đế viêm đế minh kinh dương vương thần lông nữ đều là người Trung Quốc Vậy là Long Quân ắt cũng phải được coi là giọng dõi người Trung Quốc Còn Âu Cơ người là ai? Cũng theo lĩnh nam trích quái Âu Cơ là người thuộc giọng dõi thần tiên ở phương Bắc Sau khi đẻ trăm con Long Quân rời về Thủy Phủ

[00:28:26] Âu Cơ mới bộc bạch Thiếp vốn là người phương Bắc Nay ở với vua sinh được trăm trai Xin vua đừng bỏ thiếp mà đi Không cùng thiếp nuôi con để vợ con phải làm người không chồng không cha Thật là đáng thương Vậy Hóa gia Âu Cơ theo chính lời bà cũng là người Trung Quốc Vậy Vua Hồng thứ nhất có cha là người Trung Quốc Mẹ cũng là người Trung Quốc và được sinh ra ở Việt Nam Nếu được sinh ra

[00:28:56] vào thời hiện đại Vua Hồng thứ nhất và 99 người em của ông sẽ được coi là Hoa Kiều và không thể tự động có quốc tịch Việt Nam Tuy nhiên anh em Vua Hồng thứ nhất có thể sinh nhập quốc tịch Việt Nam Nếu Lạc Long Quân và Âu Cơ tiến hành lục hồ sơ sinh nhập quốc tịch theo các điều kiện được quy định tại Điều 19 Ngục 2 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 Trong đó anh em Vua Hồng thứ nhất cần chứng minh được rằng họ

[00:29:50] nhập quốc tịch Việt Nam Mặt khác anh em Vua Hồng lại hoàn toàn đủ điều kiện nhập quốc tịch Trung Quốc Chà Tất nhiên không một người Việt Nam hiện đại nào có thể chấp nhận mở lý luận vừa rồi Càng không thể chấp nhận việc tổ tiên người Việt là người Trung Quốc hoặc thần nông thủy tổ của dân Trung Quốc cũng là cụ tổ năm đời của Lạc Long Quân và do vậy cũng chính là thủy tổ của người Việt Lý do thì cũng dễ hiểu đó là vì danh tính Việt đã được xây dựng trên cơ sở phi trung thậm chí là phản trung Hiểu nôm na

[00:30:20] Việt đơn giản nghĩa là không phải trung Đây hoàn toàn không phải là một sự tình cờ văn học trong chương trình giáo dục phổ thông Phần lớn thời lượng hai môn này được dành để học và nghiên cứu về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Ngay từ rất nhỏ mọi trẻ em Việt Nam đều đã được dạy rằng Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ

[00:30:49] to lớn Nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn Nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại bà Trưng bà Triệu Trần Hương Đạo Lê Lợi Quang Trung Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc Vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng Trên tất cả căn tính Việt Nam hiện đại là lòng yêu nước nồng nàn là niềm căm thù bà lũ bán nước

[00:31:19] và cướp nước Hình mẫu của căn tính Việt là những bà Trưng bà Triệu Trần Hương Đạo Lê Lợi Quang Trung Điểm chung của những bực vị nhất ấy là gì Là dù có ghi thắng ghi thua Họ đều đã chiến đấu anh dũng kiên cường và bất khuất Thậm chí hy sinh cả tính mạng mình để chống lại quân Trung Quốc xâm lăng Vì vậy có dùng lý lẽ rời chúng ta sẽ không tin không muốn tin và không thể tin thủy tổ của người Việt là người Trung Quốc Hình hay cố ý

[00:31:48] Qua bao nhiêu thế hệ người ta đều đã chấp nhận câu chuyện này Câu trả lời nằm ở chỗ Chúng ta đang dùng thế giới quan của thế kỷ 21 để đánh giá và phán xét một truyền thuyết của thế kỷ 14-15 Khái niệm thế giới quan ở đây có lẽ hơi rộng Cụ thể hơn Chúng ta đang dùng ký ức tập thể của thế kỷ 21 để đánh giá truyền thuyết con rồng Trào Tiên Ký ức tập thể là loại ký ức được gây dựng theo dựa nên bởi cộng đồng và chính nó sẽ tác dụng ngược lại

[00:32:17] đã nên sự gắn bó và kết nối của chính cộng đồng đã tạo ra nó Do đó ký ức tập thể thường được xây dựng sao cho phục vụ tốt nhất nhu cầu hiện tại của cộng đồng chứ không hề đặt nặng việc phải tôn trọng sự thật lịch sử Những truyền thống tân tạo chúng ta vừa đề cập là một trong những công cụ quan trọng nhất để diệt lên thư ký ức tập thể này Quay lại với chủ đức Lạc Long Quân Tại sao người xưa đã chấp nhận việc quy nguồn gốc tổ tông dân tộc về phía Bắc Và tại sao đó lại là điều khó chấp nhận với người Việt ở thế kỷ 21 Sản đơn là

[00:32:46] bởi ký tập thể của chúng ta về Trung Hoa đã thay đổi Xưa nay chúng ta vẫn nhìn được phương Bắc một thứ phức cả khó diễn tả được rõ ràng Nhà văn ngữ y thiệp đã mô tả một cách rất thẳng thừng và tục tĩu về một quan hệ ấy như sau Đặc điểm lớn nhất của xứ này là Ngược Tiểu Đây là một cô gái đồng trinh bị nhìn văn minh Trung Hoa cựu hiếp Cô gái ấy vừa thích thú vừa nhịp nhã vừa căm thủ nó Tất nhiên không thể tóm gọn một quan hệ mấy ngàn năm

[00:33:15] chỉ bằng hai câu ngắn ngủi Tuy nhiên chúng ta có thể đồng ý với Ngưỡng Huy Thiệp rằng trong ký ức tập thể của người Việt Trung Hoa là một thứ gì đó vừa đáng yêu vừa đáng ghét vừa đáng kính vừa đáng khinh hay nói một cách ngoại giao hơn như Thủ tướng Nguyễn Tân Dũng đã nói vừa hợp tác vừa đấu tranh Trong suốt một ngàn năm phong tiến hai khía cạnh yêu và ghét đó song hành nhưng sự yêu mến và kính trọng vượt trộ rõ rệt Suốt thời kỳ đó Trung Hoa được coi là hình mẫu là khuôn vàng thức ngọc các triều đại ở Việt Nam nói theo

[00:33:45] Chúng ta hãy điểm qua quan điểm của bốn triều đại quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam là Lý Trần Lê Nguyễn Đầu tiên ở chiếu rổi đô năm 2009 của Lý Công Quẩn Ông đã mở đầu văn bản bằng cách giải thích lý do vì sao cần phải rời đô Dư nhà Thương đến bời bàn canh 5 lần rời đô Nhà Chu đến đời Thành Vương 3 lần rời đô Há phải các vua thời tam đại ấy theo ý riêng tự tiện rời đô Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn

[00:34:14] Chọn ở chỗ giữa làm kế cho con cháu buôn vạn đời trên kính mảnh trời dưới theo ý dân Nếu có chỗ tiện thì rời đổi cho nên vẫn nước lâu dài phong tục giàu thịnh Thế mà hai nhà Đinh Lê lại theo ý riêng coi thử mệnh trời không nói theo việc cũ Thương Chu cứ chữ yên đóng đô nơi đây Đến nỗi thế đại không dài vận số ngắn ngủi Trăm họ tổn hào môn vật không hợp Chậm rất đau đớn không thể không rời Vậy ý của Lý Công Uẩn

[00:34:43] đã rất rõ Hai nhà Thương Chu bên Trung Quốc là hình mẫu cho thuật trị quốc Nhà Đinh và Tiền Lê không theo át phải bại vong Sau đó sang đến thời trần xét đọc loạn mở đầu của hỷ tướng sĩ Ta thường nghe Kỳ tín đem mình chết thay cứu thoát cho cao đế Do vu chỉa lương chịu giáo che chở cho triêu vương Rội ngượng nút than bảo thủ cho chủ Thân khoái chặt tay để cứu nạn cho nước Kinh Đức một chàng tuổi trẻ Thân phỏ Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung

[00:35:13] Cảo Khanh một bảy tối xa Miệng mắng lọc sơn không theo mưu kế nghịch tặc Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước đưa ngao chẳng có Bí thử mấy người đó cứ phư phư theo thói nữ nhi thường tình thì cũng đến chết hoài ở gió cửa sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được Người Việt Nam thời nay muốn đọc hiểu hình tướng sĩ sẽ phải đọc kèm với chú thích dài hơn cả văn bản gốc Kỳ tín là ai Cao đế là ai

[00:35:42] Giao vu là tướng nào Chiêu vương là vua nào Vì sao hương đạo vương lấy toàn ví dụ trong sử sách Trung Quốc Vì sao lại kể chuyện dự nhượng nút than bảo thủ cho chủ Mà không lấy tấm gương Ngô Quyền trên sông Bảy Đằng và tan quân Nam Hán để bảo thù cho Dương Đình Nệ Hay vì sao lại kể công kính Đức một chàng tuổi trẻ thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung mà không lấy tấm gương Lý Thường Kiệt phá tống Bình Chiêm giữ Yên Giang Sơn cho Lý Thánh Tông còn nhỏ tuổi để giăng chư tướng Rõ ràng ký ức của hương đạo vương mà rộng hơn

[00:36:11] là ký ức tập thể của tướng sĩ thời Trần là một ký ức thấm đẫm màu sắc Trung Hoa sang đến thời Lê thì ký ức tập thể đó vẫn còn mở đầu Bình Ngô Đại Cáo Nguyễn Trãi viết Người Đại Việt ta từ trước vốn sưng nền văn hiển đã lâu người sông bở cõi đại chia phòng tục Bắc Nam cũng khác Rõ ràng Bình Ngô Đại Cáo là bản tuyên nguồn độc lập của thế kỷ 15 khẳng định sự độc lập tự chủ của Đại Việt với Trung Quốc Hãy đi sâu thêm một tầng nghĩa tìm hiểu

[00:36:40] Nguyễn Trãi giải thích vì sao Đại Việt xứng đáng được độc lập như thế nào Ông đã nêu ra ba ý Một ý là do núi sông bở cõi đã chia Ý này tương tự như Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư tiệt nhiên định phận tại thiên thư thời Lý Ngoài ra ông bổ sung thêm hai ý nữa đó là phòng tục Bắc Nam cũng khác nhưng lý lệ quan trọng nhất của Nguyễn Trãi là Đại Việt xứng đáng độc lập bởi Đại Việt là một nước văn hiển lâu đời Nguyên văn chữ Hán là Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiển chi bang

[00:37:10] Ở đây bang và quốc đồng nghĩa văn hiển chi bang nghĩa là một nước có văn hiển văn ở đây là văn tự sách vở điển tịch hiển là người tài văn hiển chi bang nghĩa là một nước vừa có sách vở điển tịch ghi chép lại lịch sử lệ giáo và vừa có người tài người có học để viết sách và thực hành những lệ giáo đó những nước không có hai thứ này sẽ bị coi là thấp kém thậm chí là man di phân biệt này xuất phát từ Khổng Tử ông Tổ của Nho Giáo Khổng Tử sống cách chúng ta khoảng 2.500 năm

[00:37:40] thời đó Trung Quốc chưa thống nhất mà đang chia ra thành hàng chục nước khác nhau trong các nước này có nước có văn hiển có nước không có sách luận ngữ viết Khổng Phu Tử nói lễ nhà hạ thì ta có thể bàn được nhưng nhà kỷ dòng dõi nhà hạ thì không lễ của nhà ân thì ta cũng bàn được nhưng nhà tống dòng dõi của nhà ân thì không ấy là vì điển tịch và nhân tài ở kỷ và tống không đủ nếu có đủ thì ta có thể khảo nghiệm được đây là một

[00:38:09] lập luận cực kỳ quan trọng và là trung tâm của ý thức quốc gia dân tộc của người Việt cũng như của cả khối hán quyển Đông Á không phải ngẫu nhiên Nguyễn Trãi đã đưa ra một lập luận như vậy tiến sĩ Trần Trọng Dương một trong các nhà nghiên cứu Hàn Nô và cổ sử uy tín hàng đầu hiện nay cho biết sách dư địa trí của Nguyễn Trãi do Lý Tử Tân viết thông luận có đoạn từ khi người nguyên vào Trung Quốc tru ở Kim Lăng họ triệu ở Kim Sơn mà thôi đến khi thái tổ

[00:38:39] nhà mình lên làm vua sai dịch tế dân sang thông hiếu vua Trần Dụ Tông sai doạn thuấn thần sang cống nhà mình vua mình úy lạo hỏi quốc sứ khen phong tục y phục vẫn giống như văn minh Trung Hoa ban cho bài thơ ngự chế rằng An Nam tế hữu trần phong tục bất nguyên nhân y quan chu chế độ lễ nhạc tấm quân thần đất An Nam có họ Trần phong tục không theo người nguyên áo mũ vẫn theo chế độ nhà chu

[00:39:08] lễ nhạc vẫn hệt như vua tôi nhà Tống rồi cho bốn chữ văn hiến chi bang và thăng địa vị cho sứ thần của Đại Việt lên trên sứ thần Triều Tiên ba cấp Nôm na là vào thế kỷ 13 người Mông Cổ hay rợ hồ theo cách gọi của người Hán đã xâm lược tiêu diệt các triều đại của người Hán và thống trị Trung Quốc người Mông Cổ đã bãi bỏ nhiều phong tục cổ của người Hán rồi áp đặt phong tục của người Mông Cổ sau này nhà Minh khởi nghĩa thành công đánh đuổi người Mông Cổ tái lập triều đại của người Hán

[00:39:37] họ đã phục hồi lại các phong tục cổ sau đó nhà Trần sai sứ sang tiến cống nhận thấy nhà Trần vẫn giữ được các phong tục cổ xưa như áo mũ trang phục theo chế độ nhà chu phép tắc lễ nghĩa âm nhạc theo lệ của nhà Tống vua Minh Thái Tổ đã khen ngợi và ban cho nhà Trần bốn chữ văn hiến chi bang vua quan nhà Trần qua đó rất lấy làm hãnh diện như thể học trò được thầy giáo khen và cử lên làm lớp trường sẽ từ hạng hơn hẳn mấy tay bạn học cùng lớp làng nhà như hội Triều Tiên như vậy văn hiến chi bang

[00:40:06] không phải là danh sưng do Nguyễn Trãi hay người Việt nghĩ ra mà do vua Minh khen tặng với Bình Ngô Đại Cáo Nguyễn Trãi đã dùng lý lẽ của chính Trung Quốc để phản bác lại Trung Quốc ý của ông là theo khổng tử nước có văn hiến là nước độc lập Đại Việt là nước có văn hiến đã được chính Minh Thái Đổ công nhận vậy Đại Việt xứng đáng được độc lập rõ ràng Nguyễn Trãi vẫn tư duy bằng ý thức hệ Trung Hoa sử dụng ký ức tập thể chung từ thời khổng tử của cả Trung Quốc và Việt Nam để xây dựng lập luận của mình

[00:40:36] đó là thứ ký ức ngày nay chúng ta không còn giữ lại nữa chúng ta không còn đọc khổng tử không còn trích sử Trung Hoa học sinh Việt Nam ngày nay có thể thuộc lòng bản dịch Bình Ngô Đại Cáo nhưng chỉ có thể hiểu ý nghĩa của văn hiến chi bang trong tuyên ngôn độc lập năm 1945 Thủy Khổ Chí Minh cũng đã từ bỏ cách diễn giải văn hiến chi bang của Nguyễn Trãi để áp dụng lý thuyết tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng của Thomas Jefferson như chúng tôi đã phân tích trong tập Việt Nam To Thế

[00:41:06] Như đã giải thích ở trên vào khoảng năm 1920-1930 chỉ trong khoảng 20 năm người Việt đã từ bỏ gần như triệt để cái ký ức tập thể mà các thế hệ cha ông đã cùng chia sẻ với người Trung Quốc trong suốt 2000 năm để tạo dựng một danh tính mới Chỉ vài thập kỷ trước ký ức đấy vẫn còn sâu rộng lắm Các vua Nguyễn gồm Gia Long Minh Mạng Thiệu trị Thực Đức và các sử gia Nho Thần đều coi rằng mình là người thừa kế chính thống của văn hóa Hán Trong các văn bản chính thức của thời đại này người Việt thường xuyên

[00:41:35] tự gọi mình là Hán Nhân và gọi người Trung Quốc là Thanh Nhân Lý do là các trí thức thời nhà Nguyễn cho rằng người Trung Quốc đã mất đi tính Hán Hán ở đây không còn là từ dùng chỉ quốc gia hay sắc tộc mà để chỉ văn hóa Hiện tượng này cũng tương tự như việc các bộ tập người Frank and Goth sau khi tiêu diệt đế chế La Mã để tự xưng mình là Roman, La Mã Suy nghĩ của nhà Nguyễn chẳng phải là bán nước hay lai găng gì Nó chỉ là sự lặp lại của tư duy văn hiến chi bang của Nguyễn Trãi 500 năm trước Cũng giống như nhà Trần thời trước

[00:42:04] giữ được y quan chu chế độ lễ nhạc tống quân thần trong khi Trung Hoa bị Mông Cổ thống trị và xóa bỏ các phong tục Hán truyền thống Nhà Nguyễn cũng sống trong một bối cảnh tương tự Nhà Thanh cũng giống như Mông Cổ là một triều đình có nguồn gốc du mục phương Bắc đã đánh bại nhà Minh để thống trị Trung Quốc Họ xóa bỏ nhiều truyền thống cũ để áp đặt phong tục của dân du mục Điển hình là việc bắt toàn thể dân Hán phải cạo đầu để tắp đôi sam và mặc quần áo của người Mãn Người chống đối nhẹ thì vào tù nặng thì mất mạng Bởi vậy Phương Minh Mạng từng phát biểu rằng Đại Thanh

[00:42:34] vốn xưa là người Mãn mà Mãn thì là Man Di Vậy Trung Quốc đã di hóa chỉ còn Việt Nam là thần lụy cuối cùng dình dữ văn hóa Hán Vậy gọi người Việt là Hán nhân để phân biệt với Thanh nhân là điều hết sức hợp lý Không chỉ người Việt nhiều người Trung Quốc thời đó cũng đồng ý như vậy Thời vừa thuận trị khi thấy Sứ thần Việt Nam sang trầu nhiều người Trung Quốc rưng rưng nước mắt Ấy là bởi trang phục của quan lại Việt Nam đương thời Chúng ta cũng bắt gặp câu chuyện tương tự

[00:43:03] trong ghi chép của các sứ thần Triều Tiên cùng thời Họ kể rằng Thượng thư họ Tào người Hán mở tiệc thấy đai mũ của sứ thần Triều Tiên liền ràn ruộng nước mắt Rõ ràng Trới đầu thời Nguyễn vẫn còn tồn tại một thứ ký ức tập thể chung của toàn thể khối Hán quyển Bốn nước đồng văn Trung Triều Nhật Việt Thứ ký ức tập thể ấy được hình thành bởi nhiều thành tố Trong độ quan trọng nhất là văn tự Bốn nước đều dùng Hán văn là chữ viết chính thức là tư tưởng Cả bốn nước đều lấy Nho giáo

[00:43:33] là tư tưởng chủ đạo là hệ điều hành chung và giáo dục Học trò cả bốn nước đều sử dụng chung một bộ sách giáo khoa Tứ thư ngũ kinh và các trước tác kinh điển khác của Nho gia Trung Quốc Bởi vậy Lý Công Bẩn mới lấy Thương Chu ra để chỉ trích Đinh Lê Hưng Đạo Vương mới lấy kỷ tín Cao Đế ra để dạy rỗ chư tướng Nguyễn Trại mới đem văn hiến chi bang của khổng tử ra để bể gãy thập luận của nhà Minh Nền giáo dục mà các vị ấy được thụ hưởng đều là nền giáo dục nho giáo Ký ức tập thể của các vị ấy là các sự kiện nhân vật của Trung Quốc được khổng tử và môn đệ

[00:44:02] chép lại trong từ thư ngũ kinh Danh tính các vị ấy là danh tính của một trí thức Hán nhân không phải theo nghĩa quốc gia dân tộc mà theo nghĩa văn hóa Chỉ từ đầu thế kỷ 20 thì ký ức tập thể ấy mới bị xóa sổ triệt để để khai sinh ra một danh tính Việt Nam mới mang tính chất Âu Hóa hơn và để làm được việc đó người ta đã buộc phải dìm chuyển thầm cũ quan điểm với văn minh Trung Hoa xuống phủ định nó đi Rồi ngay sau đó là liên tiếp các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nổ ra

[00:44:32] Và trong đó kẻ thù một cuộc đụng độ gần nhất không ai khác chính là Trung Quốc Với bố cảnh ấy ý chí độc lập tinh thần đoàn kết quyết tâm kháng cự trước kẻ địch hùng mạnh hơn càng được ưu tiên Những truyền thống cổ xưa như con rồng Cháu Tiên tái sử dụng tái phổ biến nhưng với sắc thái ý nghĩa mới Yếu tố trăm trứng để trăm con được nhấn mạnh để giải thích dù Việt Nam có tới 54 dân tộc tất cả đều là anh em để có chung một nguồn cội chung một quốc tổ 54 dân tộc mà có tới 54 nguồn cội có lẽ hơi bất tiện

[00:45:01] hơi mất đoàn kết Còn yếu tố thần nông yếu tố tổ tông người Việt là người Hán mối được các nho gia thời xưa nhấn mạnh nay được làm mờ đi thậm chí ẩn dấu đi hoàn toàn chủ nó vẫn rành rành người đó ngay mở đầu câu chuyện Cũng giống như bộ váy mới của ngài George hay tủ áo dài tân thời của bà Nam Phương con rồng Cháu Tiên là một thứ truyền thống đã được cải tạo theo ý chí của nhà cầm quyền để phục vụ một dự án chính trị cụ thể

[00:45:32] Truyền thống dù thời xưa hay thời nay dù ở phương Đông hay phương Tây thường không phải là một thứ bất biến cổ xưa sẽ chẳng có truyền thống nào được bảo tồn nguyên vẹn như thể pho tượng trên bệ thờ Ngay cả pho tượng cũng sẽ thay đổi như màu da của Đức Thích Ca hay giới tính của Đức Quán Âm Truyền thống đã đang và sẽ luôn luôn là tân tạo được phát minh hoặc làm mới không ngừng sao cho phù hợp với thời cuộc Và không chỉ trong chính trị hay tôn giáo chúng ta sẽ có dịp gặp gỡ những nhà phát minh

[00:46:01] ra truyền thống vị đại nhất của thời hiện đại Những người đã đang và sẽ hàng ngày hàng giờ thao túng hành vi của tất cả các bạn theo những cách mà các bạn chẳng bao giờ ngờ được Họ đã từng góp phần phát minh ra chiếc váy Kilt của thế kỷ 17 Và họ sẽ còn đóng vai trò ngày càng lớn hơn nữa Họ là các nhà tư bản nhật thành và đáng mến của thế kỷ 19-20 Xin chào và hẹn gặp lại